Trước khi thành vùng cảng và khu dân cư, Nhà Bè là đất ruộng một vụ, vườn dừa nước, đầm tôm và nghề đánh bắt trên sông rạch nước lợ. Ngày nay những nghề đó vẫn còn ở các xóm ven rạch phía nam, thuộc Hiệp Phước, Long Thới, Nhơn Đức cũ, nhưng chỉ còn là một phần thu nhập của nhiều gia đình. Kinh tế hộ ở đây đang đi qua một cuộc chuyển nghề lặng lẽ.
Bài nhìn kinh tế hộ ven sông Nhà Bè như một ngành kinh doanh nhỏ: nghề nào còn, sống được ra sao, rủi ro gì, và người dân đang chuyển nghề theo những hướng nào. Bài không nêu giá tôm cá, năng suất hay thu nhập cụ thể; ví dụ nếu có đều là giả định. Phần sinh thái dừa nước, bần, ẩm thực từ sản vật nước lợ đã có ở các mục khác của trang.
Những nghề truyền thống của vùng nước lợ
Đất Nhà Bè thấp, nước mặn theo triều lấn vào sâu, nên lúa chỉ trồng được một vụ trong mùa mưa ở những chân ruộng có đê bao. Phần lớn người dân xưa sống dựa vào nước: đặt đáy, giăng lưới, đặt lờ, câu trên sông rạch; nuôi tôm, cá trong các đầm, vuông ven rạch theo cách lấy nước triều vào ra; trồng và khai thác dừa nước để lấy lá lợp nhà, lấy trái ăn.
Lá dừa nước từng là vật liệu lợp nhà phổ biến của Nam Bộ, và Nhà Bè với những rạch dày dừa nước là một nguồn cung. Nghề chằm lá, bán lá giảm dần khi nhà mái tôn, mái ngói thay thế, nhưng vẫn còn những hộ bán lá cho các quán sân vườn, khu du lịch sinh thái, công trình cần mái lá.
Đánh bắt trên sông thì phụ thuộc con nước. Người làm nghề thuộc lịch nước lớn, nước ròng, biết lúc nào cá vào rạch, lúc nào tôm ra sông. Nghề này nuôi sống nhiều gia đình qua nhiều thế hệ, nhưng sản lượng giảm khi lòng sông có nhiều tàu lớn, bờ sông bị kè, môi trường nước chịu áp lực từ đô thị và công nghiệp.
Các hình thức kinh tế hộ ven sông hiện nay
Bảng dưới mô tả các nghề còn gặp ở các xóm ven rạch phía nam Nhà Bè, theo hiểu biết chung; quy mô thật tuỳ từng hộ, từng năm.
| Nghề | Cách làm phổ biến | Rủi ro chính |
|---|---|---|
| Nuôi tôm nước lợ | Vuông, đầm ven rạch, lấy nước theo triều, có hộ nuôi thâm canh hơn với ao lót bạt | Dịch bệnh, nước ô nhiễm, thời tiết thất thường, giá biến động |
| Nuôi cá | Cá kèo, cá đối, cá rô phi trong ao, vuông | Mặn nhạt thay đổi, thiếu vốn, đầu ra |
| Đánh bắt sông rạch | Lưới, đáy, lờ, câu theo con nước | Sản lượng giảm, an toàn trên sông nhiều tàu lớn, quy định về khai thác |
| Dừa nước | Khai thác lá, trái, giữ bờ rạch | Diện tích thu hẹp, nhu cầu lá giảm |
| Trồng rau, cây ăn trái nhỏ | Đất vườn nhà, liếp cao | Nhiễm mặn mùa khô, ngập khi triều cường |
| Thu mua, sơ chế | Mua tôm cá của hộ nuôi, bán lại cho chợ, vựa | Vốn quay vòng, giữ tươi, ép giá |
Phần lớn hộ kết hợp vài nghề cùng lúc và có thêm thu nhập từ con cái đi làm công ty, chạy xe, buôn bán nhỏ. Thu nhập từ sông nước dần trở thành phần phụ, nhưng vẫn là phần gắn bó với nếp sống của gia đình.
Nuôi tôm cá: kinh doanh nhỏ nhưng nhiều biến số
Nuôi tôm nước lợ là nghề lớn nhất còn lại trong kinh tế hộ ven sông Nhà Bè. Cách nuôi quảng canh truyền thống, dựa vào con giống tự nhiên theo nước triều, ít vốn nhưng năng suất thấp. Một số hộ chuyển sang nuôi bán thâm canh, thâm canh với ao lót bạt, máy sục khí, thức ăn công nghiệp, vốn lớn hơn và rủi ro cũng lớn hơn.
Người nuôi tôm như một chủ doanh nghiệp nhỏ: phải tính chi phí con giống, thức ăn, điện, thuốc xử lý nước, nhân công, rồi đối mặt với giá đầu ra không chắc chắn. Chỉ một đợt dịch bệnh có thể làm mất trắng cả vụ. Nguồn nước ở vùng gần đô thị và khu công nghiệp chịu thêm áp lực ô nhiễm, nên việc theo dõi chất lượng nước, chọn thời điểm lấy nước càng quan trọng.
Một số kinh nghiệm chung của người nuôi vùng nước lợ: mua con giống ở cơ sở rõ nguồn gốc, có kiểm dịch; không thả nuôi dày quá sức ao; ghi chép nhật ký ao nuôi; liên kết với vài hộ cùng xóm để mua vật tư, bán sản phẩm tốt hơn; tham gia các lớp tập huấn của cơ quan khuyến nông khi có. Hỏi thăm cơ quan chuyên môn của xã về các chương trình hỗ trợ hiện hành.
Một năm của người làm nghề sông nước
Nhịp kinh tế hộ ven sông Nhà Bè đi theo mùa nước. Mùa mưa, khoảng từ giữa năm, nước ngọt từ thượng nguồn và mưa làm độ mặn trong sông rạch giảm; đây là lúc các chân ruộng có đê bao làm lúa, ao nuôi cần điều chỉnh vì nước nhạt đi nhanh. Mùa khô, đầu năm dương lịch trở đi, nước mặn lấn sâu hơn, rau màu ở liếp thấp dễ bị cháy lá, nhưng lại thuận cho các loài ưa nước lợ.
Cuối năm âm lịch là mùa triều cường. Nước lên cao nhất trong năm, tràn bờ ao, vượt đê bao thấp, có thể làm tôm cá thoát ra ngoài. Người nuôi phải gia cố bờ, đặt lưới chắn, thu hoạch sớm những ao nằm ở chỗ trũng. Cũng là lúc nhu cầu tôm cá cho Tết tăng, nên ai canh được lịch thu hoạch hợp với triều và chợ thì bán được giá hơn.
Nghề đánh bắt thì theo chu kỳ con nước trong tháng: những ngày nước lớn, nước ròng mạnh quanh rằm và mùng một là lúc đặt đáy, giăng lưới có hiệu quả. Người làm nghề sắp xếp công việc khác, như đi làm thuê, chạy xe, vào những ngày nước kém.
Hiểu nhịp này giúp người mới muốn làm nghề hoặc muốn thu mua, chế biến sản vật địa phương lên kế hoạch hợp lý, thay vì áp lịch làm việc của nhà máy lên một nghề phụ thuộc vào trời và nước.
Áp lực đô thị hoá và giá đất
Từ khi khu công nghiệp Hiệp Phước, các cảng và đường lớn hình thành, đất nông nghiệp ở Nhà Bè liên tục được thu hồi hoặc chuyển nhượng cho các dự án. Nhiều hộ nhận tiền bồi thường hoặc bán đất, chuyển sang buôn bán, xây trọ, mua xe chạy dịch vụ. Một số làm ăn thuận lợi, một số tiêu hết tiền mà không có nghề mới.
Giá đất tăng còn tạo áp lực vô hình: giữ ao tôm trên mảnh đất có giá trị cao trở nên kém hấp dẫn khi so với cho thuê hay bán. Nhiều hộ để đất trống chờ giá, ao tôm bỏ hoang. Đây là chuyện thường thấy ở các vùng ven đô của thành phố lớn.
Bên cạnh đó, những công trình lớn như đường, cầu, kè, khu công nghiệp làm thay đổi dòng chảy và chất lượng nước ở các rạch nhỏ. Có rạch bị lấp một phần, có nơi cống ngăn triều làm nước lưu thông kém. Người nuôi trồng ở hạ lưu những công trình này thường là người chịu ảnh hưởng đầu tiên, và cần lên tiếng qua chính quyền xã khi thấy nguồn nước thay đổi bất thường.
Với những hộ còn giữ nghề, điều quan trọng là nắm rõ quy hoạch sử dụng đất nơi mình đang canh tác, tình trạng pháp lý của ao, vuông, để biết mình còn làm được bao lâu và có thể đầu tư tới mức nào. Thông tin quy hoạch nên hỏi tại cơ quan quản lý đất đai của xã hoặc tra trên kênh chính thức của thành phố.
Những hướng chuyển nghề người dân hay chọn
Buôn bán nhỏ tại nhà. Mở tạp hoá, quán ăn, cà phê phục vụ công nhân, người dân mới. Vốn ít, tận dụng mặt tiền nhà nhưng cạnh tranh tăng dần.
Xây nhà trọ. Tận dụng đất ở để xây phòng cho thuê. Thu nhập đều nếu gần khu công nghiệp, nhưng phải tính phòng cháy, chống ngập và tỉ lệ phòng trống.
Làm công ty, nhà máy. Thế hệ trẻ đi làm trong khu công nghiệp, cảng, kho bãi. Thu nhập ổn định hơn nghề sông nước, có bảo hiểm.
Học nghề kỹ thuật. Lái xe nâng, xe tải, hàn, điện, sửa máy. Nghề kỹ thuật gắn với kinh tế cảng và công nghiệp ở Nhà Bè có nhu cầu bền.
Dịch vụ sông nước. Chở khách bằng ghe, cho thuê chỗ câu cá, mở quán ven sông cuối tuần cho người nội đô. Cần tuân thủ quy định về phương tiện thuỷ và an toàn cho khách.
Giữ nghề nhưng làm khác. Một số hộ chuyển sang nuôi đặc sản, bán trực tiếp qua mạng cho khách thành phố, giảm phụ thuộc vào thương lái.
Giữ lại gì từ kinh tế sông nước
Kinh tế hộ ven sông không chỉ là thu nhập. Nó giữ lại tri thức về con nước, về loài cá tôm, về cách sống chung với triều cường mà người mới đến không có. Những rặng dừa nước, bần ven rạch người dân giữ để làm nghề cũng là lớp bảo vệ bờ khỏi sạt lở và là nơi tôm cá con trú ẩn.
Người làm nghề lâu năm còn biết những điều không sách nào ghi: rạch nào nước lên sớm, khúc sông nào hay có xoáy, mùa nào cá kèo béo, cây bần trổ bông báo hiệu điều gì. Tri thức ấy truyền miệng trong gia đình và mất đi rất nhanh khi thế hệ sau rời nghề.
Khi Nhà Bè đô thị hoá, việc giữ lại một phần sinh kế sông nước có lợi cho cả vùng: cung cấp thực phẩm tươi gần thành phố, giữ không gian xanh, tạo nét riêng cho những quán ven sông, những chuyến đi cuối tuần. Một số hộ đã kết hợp nghề nuôi với đón khách tham quan nhỏ, cho trẻ con thành phố xem cách bắt cá kèo, tát đầm.
Hướng đi bền là để người làm nghề có thông tin, có tổ chức và có đầu ra: hợp tác giữa các hộ, kết nối với chợ, nhà hàng ở khu dân cư mới, minh bạch nguồn gốc sản phẩm. Những doanh nghiệp thu mua, chế biến thuỷ sản trên địa bàn có thể tra trong danh bạ doanh nghiệp của trang.
Với người trẻ trong các gia đình làm nghề, giữ nghề không có nghĩa là làm y như cha mẹ. Hiểu thêm về quản lý ao nuôi, ghi chép chi phí, bán hàng qua mạng, đăng ký nhãn sản phẩm có thể biến một nghề phụ thành một kinh doanh nhỏ có lời, song song với công việc chính ở công ty hay nhà máy gần nhà.
Câu hỏi thường gặp
Ở Nhà Bè còn nuôi tôm không?
Còn, chủ yếu ở các xóm ven rạch phía nam, thuộc xã Hiệp Phước hiện nay, gồm Hiệp Phước, Long Thới, Nhơn Đức cũ. Quy mô nhỏ hơn trước nhiều vì đất nông nghiệp đã chuyển sang khu công nghiệp, cảng, khu dân cư. Nhiều hộ nuôi theo cách quảng canh, một số đầu tư ao lót bạt nuôi thâm canh.
Muốn nuôi tôm nước lợ ở Nhà Bè cần chú ý gì về pháp lý?
Cần đất được sử dụng đúng mục đích nuôi trồng thuỷ sản, nắm rõ quy hoạch để biết thời gian còn được canh tác, tuân thủ quy định về con giống, thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản và xả thải. Nên hỏi cơ quan chuyên môn về nông nghiệp của xã để được hướng dẫn cụ thể.
Đánh bắt cá trên sông Nhà Bè có bị cấm không?
Khai thác thuỷ sản ở sông rạch nhìn chung được phép nhưng phải tuân thủ quy định: không dùng chất nổ, xung điện, chất độc, ngư cụ bị cấm, không khai thác trong khu vực, thời gian cấm. Luồng tàu lớn trên sông Nhà Bè, Soài Rạp cũng có quy định riêng về an toàn. Nên hỏi chính quyền xã về quy định hiện hành.
Nông dân Nhà Bè bị thu hồi đất có được hỗ trợ chuyển nghề không?
Theo pháp luật đất đai, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, người bị thu hồi có thể được bồi thường và hỗ trợ ổn định đời sống, đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm việc làm. Mức và hình thức cụ thể tuỳ dự án và quy định của thành phố tại thời điểm thu hồi; nên hỏi trực tiếp hội đồng bồi thường của dự án.
Có thể bán tôm cá trực tiếp cho khách thành phố thay vì bán cho thương lái không?
Có thể, nhiều hộ đã bán qua mạng xã hội, nhóm cư dân, hoặc cho nhà hàng, quán ăn gần đó. Cách này giữ được phần lợi nhuận lẽ ra vào khâu trung gian nhưng đòi hỏi tự lo giao hàng, giữ tươi, xây dựng uy tín. Với lượng lớn, nên tính tới đăng ký kinh doanh và an toàn thực phẩm.
Lá dừa nước ở Nhà Bè còn bán được không?
Nhu cầu lá lợp nhà giảm nhiều so với trước, nhưng vẫn còn từ các quán sân vườn, khu du lịch sinh thái, công trình cần mái lá trang trí. Một số hộ giữ nghề chằm lá theo đơn đặt hàng. Giữ rặng dừa nước ven rạch còn có lợi cho việc giữ bờ, nên nhiều hộ vẫn duy trì.