NhaBe.orgNhà Bè
Lịch sử và tên gọi

Nhà Bè thời mở đất Gia Định: lưu dân, ghe thuyền và những xóm đầu tiên ven sông

Vùng đất Nhà Bè được khai phá ra sao từ cuối thế kỷ XVII: lưu dân đến bằng đường nào, sống bằng nghề gì, xóm làng mọc ở đâu và điều gì còn lại đến hôm nay.

Wooden sampans moored along a muddy tidal creek lined with dense nipa palms, a few thatched stilt houses behind, misty morning light, wide documentary view

Vùng Nhà Bè được người Việt khai phá cùng thời với đất Sài Gòn – Gia Định, tức từ khoảng cuối thế kỷ XVII sang thế kỷ XVIII, khi lưu dân từ miền Trung theo đường biển và đường sông vào lập nghiệp. Khác với vùng đất gò cao phía bắc Sài Gòn, Nhà Bè là đất thấp, nước lợ, bãi bồi và rừng dừa nước, nên người đến sau thường dựng xóm dọc bờ rạch, sống bằng ghe thuyền, đánh bắt và làm ruộng một vụ trước khi có ruộng vườn ổn định.

Không có văn bản nào ghi chính xác năm người đầu tiên đến dựng nhà ở Nhà Bè. Những gì biết chắc là bức tranh chung của cả vùng: mốc lập phủ Gia Định năm 1698, các con đường thuỷ chính, nghề nghiệp và cách lập làng của cư dân sông nước. Bài này ghép những mảnh ấy lại, nói rõ chỗ nào là tư liệu, chỗ nào là suy luận từ địa lý.

Mốc lớn: phủ Gia Định năm 1698

Mốc được sử sách ghi rõ nhất là năm 1698, khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lý, đặt phủ Gia Định, chia đất lập dinh, huyện, lập sổ đinh điền cho cư dân đã có mặt từ trước. Trước mốc này, người Việt đã đến làm ăn rải rác ở vùng Đồng Nai, Bến Nghé; sau mốc này, việc khai phá có tổ chức hơn, có quan cai trị, có sổ sách.

Vùng đất phía nam Bến Nghé, kéo xuống tới ngã ba sông, nằm trong phạm vi phủ Gia Định từ buổi đầu. Tuy vậy, sách vở thời ấy chủ yếu ghi các trung tâm như Bến Nghé, Sài Gòn, Biên Hoà; những vùng đất thấp ven sông như Nhà Bè hiện ra qua tên sông, tên ngả đường thuỷ nhiều hơn là qua tên làng. Muốn biết làng nào ở Nhà Bè có từ bao giờ, người ta thường phải dựa vào sắc thần ở đình, gia phả các dòng họ, hoặc sổ địa bộ đời sau.

Vì vậy khi đọc một bài giới thiệu ghi "làng X ở Nhà Bè lập năm Y", nên hỏi nguồn. Phần lớn các mốc năm như thế đến từ sắc phong, bia đình hoặc trí nhớ của bô lão, có giá trị nhưng cần ghi rõ xuất xứ.

Lưu dân đến Nhà Bè bằng đường nào

Đường biển rồi ngược sông. Người từ miền Trung vào thường đi ghe bầu men theo bờ biển, vào cửa sông Cần Giờ hoặc cửa Soài Rạp rồi ngược lên. Muốn tới Bến Nghé hay Biên Hoà đều phải qua khúc sông Nhà Bè. Một số người dừng lại ngay ở đây vì đất trống, cá tôm nhiều, chưa ai chiếm giữ.

Từ Sài Gòn lan xuống. Khi đất quanh Bến Nghé đã đông, những gia đình đến sau, hoặc con cháu các nhà đã định cư, lần theo các rạch đi xuống phía nam tìm đất mới. Nhà Bè là hướng mở tự nhiên vì gần chợ búa Sài Gòn, bán được cá tôm, củi lá dừa.

Từ vùng Gò Công, Cần Giuộc sang. Bên kia sông Soài Rạp và các rạch phía tây nam là đất Cần Giuộc, Gò Công, nơi khai phá cũng sớm. Qua lại giữa hai bờ bằng xuồng ghe là chuyện thường ngày, nên có những dòng họ, những mối thông gia nối hai vùng từ rất lâu.

Người Hoa và các nhóm khác. Sách về Gia Định xưa có nói tới người Hoa đến buôn bán, lập phố chợ ở Bến Nghé, Chợ Lớn. Ở vùng ven sông như Nhà Bè, sự có mặt của họ chủ yếu gắn với buôn bán trên sông và các miếu thờ nữ thần biển; quy mô cụ thể ở Nhà Bè thời đầu thì chưa có số liệu đáng tin.

Đất thấp, nước lợ: sống thế nào ở vùng mới

Cảnh quan Nhà Bè thời mở đất khác xa hôm nay. Phần lớn là bãi bùn ngập theo con nước, rừng dừa nước dày đặc dọc rạch, xen những gò đất cao hơn một chút đủ dựng nhà. Nước sông lợ, mùa khô càng mặn, nên nước ngọt là thứ quý: người ta hứng nước mưa vào lu, khạp, hoặc chở nước từ nơi khác về. Chi tiết nhà bè chứa nước ngọt cho khách qua đường trong truyền tích phản ánh đúng điều này.

Nghề sống đầu tiên là nghề của sông: đánh bắt cá tôm, cua ốc, đặt đáy, đặt lờ ở cửa rạch. Lá dừa nước dùng lợp nhà, bán ra chợ; thân và bẹ dừa nước làm củi, làm vách. Những gò đất được khai thành ruộng, trồng lúa mùa chịu được nước lợ, năng suất không cao nhưng đủ ăn. Đắp bờ ngăn nước mặn, đào mương dẫn nước mưa là công việc của nhiều đời.

Đi lại hoàn toàn bằng xuồng ghe. Mỗi nhà có ít nhất một chiếc xuồng; nhà khá có ghe lớn chở hàng lên Sài Gòn. Vì thế nhà cửa đều quay mặt ra rạch, bến nước trước nhà là "cổng" thật sự. Cách bố trí này còn thấy ở những xóm cũ ven rạch tại Phước Lộc, Long Thới, Nhơn Đức trước khi đường bộ mở rộng và nhà mới quay ra lộ.

Nhà Bè thời mở đất và Nhà Bè hôm nay

So sánh dưới đây giúp hình dung những gì đã đổi và những gì vẫn giữ. Phần thời mở đất là bức tranh chung của vùng ven sông Gia Định, không phải số liệu riêng của từng làng:

Khía cạnhThời mở đất (thế kỷ XVII–XVIII)Hôm nay
Đường đi chínhSông rạch, xuồng gheTrục Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Lê Văn Lương, cao tốc; sông dành cho tàu hàng
Nghề chínhĐánh bắt, lá dừa nước, lúa mùaCảng, kho vận, công nghiệp, dịch vụ, một phần nuôi trồng
Nhà cửaNhà lá, nhà sàn quay ra rạchNhà phố, chung cư quay ra đường
Nước ngọtHứng nước mưa, chở nướcNước máy, nhưng triều cường và mặn vẫn là mối lo
Nơi sinh hoạt chungĐình làng, bến nướcĐình vẫn còn, thêm chợ, trường, khu dân cư mới

Điểm giữ nguyên qua ba thế kỷ là quan hệ với con nước. Người Nhà Bè hôm nay vẫn hỏi nhau "hôm nay nước lớn mấy giờ" trước khi tính chuyện ra đường hay dọn đồ, y như ông bà ngày trước tính giờ chèo ghe.

Làng xóm hình thành quanh đình và bến

Theo nếp chung của Nam Bộ, khi một nhóm gia đình đã đủ đông, họ lập làng, dựng đình, xin sắc thần. Ngôi đình vừa là nơi thờ thần bảo hộ, vừa là nơi hội họp, xử việc làng. Ở vùng sông nước, đình thường dựng gần bến lớn hoặc ngã ba rạch, chỗ ghe xuồng tụ lại dễ dàng. Nhiều ngôi đình ở Nhà Bè hiện nay vẫn nằm sát rạch, dù đường bộ đã chạy ngang phía sau.

Tên làng thời ấy thường là chữ Hán Việt mang ý tốt lành: có chữ Phước, chữ Long, chữ Phú, chữ Nhơn. Những tên như Phú Xuân, Phước Kiển, Phước Lộc, Long Thới, Nhơn Đức, Hiệp Phước còn dùng làm tên xã đến tận trước đợt sắp xếp năm 2025. Ý nghĩa từng tên được nói ở một bài riêng; điều cần biết ở đây là đó là tên do người lập làng chọn, gửi gắm mong ước an cư, chứ không phải tên tả địa hình như Nhà Bè.

Về sau, qua các lần chính quyền điều chỉnh, nhiều làng nhỏ được gộp lại, đổi tên hoặc tách ra. Vì vậy một xã cũ ở Nhà Bè thường là kết quả của nhiều lần gom làng, và người già trong xã đôi khi còn nhớ tên các làng, ấp nhỏ hơn đã không còn trên giấy tờ.

Điều còn lại để tìm hiểu hôm nay

Dấu tích thời mở đất ở Nhà Bè không nằm trong bảo tàng mà rải rác trong đời sống. Các ngôi đình, miếu cũ với sắc phong, hoành phi, câu đối là nguồn tư liệu quý; nhiều nơi vẫn giữ lễ Kỳ Yên hằng năm. Gia phả các dòng họ lâu đời ở Phước Lộc, Phú Xuân, Long Thới ghi lại đời ông bà vào đây lập nghiệp. Tên các con rạch, cây cầu, ấp, xóm cũng là những "tài liệu sống" giữ trí nhớ của vùng.

Người muốn tìm hiểu có thể bắt đầu bằng việc hỏi chuyện người cao tuổi trong xóm, ghi lại tên các rạch, các ấp, những câu chuyện về đời ông bà. Ghi kèm ai kể, kể năm nào, để sau này người khác đối chiếu được. Với học sinh, đây là một bài tập lịch sử địa phương rất có ích; với người mới chuyển đến, đó là cách nhanh nhất để thấy nơi mình ở có chiều sâu.

Những ai muốn đi xa hơn có thể tìm đọc các sách khảo cứu về địa chí Gia Định, sách về đình làng Nam Bộ và địa danh thành phố, có ở các thư viện lớn. Khi đọc, nên để ý tác giả dẫn nguồn từ đâu, và chú ý rằng tên Nhà Bè trong sách cũ có thể chỉ khúc sông chứ không phải vùng đất đúng như ranh giới bây giờ.

Con đường thuỷ quyết định chỗ ở

Muốn hiểu vì sao xóm làng Nhà Bè mọc ở chỗ này mà không ở chỗ khác, hãy nhìn theo dòng nước. Sông lớn như Nhà Bè, Soài Rạp là đường cho ghe buôn, ghe bầu đi xa; còn đời sống hằng ngày dựa vào những con rạch nhỏ len vào đất liền. Nhà cửa dựng dọc rạch vì ở đó nước êm, ghe xuồng neo được, lại có bãi bồi để làm ruộng. Ngã ba rạch, chỗ hai dòng nhỏ gặp nhau, thường thành chỗ họp chợ, dựng đình.

Lối sống theo rạch kéo theo cách tính khoảng cách rất riêng: người xưa không nói "cách mấy cây số" mà nói "chèo một con nước", tức đi hết một lần nước lớn hoặc nước ròng. Đi ngược nước tốn sức gấp mấy lần đi xuôi, nên người ta canh giờ nước để khởi hành. Một chuyến lên chợ Sài Gòn có thể phải đi từ khuya để kịp con nước, rồi chờ con nước sau mới về.

Cách chọn chỗ ở theo đường thuỷ này giải thích vì sao bản đồ khu dân cư cũ ở Nhà Bè chạy ngoằn ngoèo theo rạch, còn khu dân cư mới thì thẳng tắp theo đường bộ. Đi giữa hai kiểu xóm, người tinh ý sẽ nhận ra ngay đâu là phần đất có người ở từ lâu.

Những hiểu lầm thường gặp về Nhà Bè thời xưa

"Nhà Bè có từ thời Nguyễn Hữu Cảnh." Năm 1698 là mốc lập phủ Gia Định, không phải năm lập vùng Nhà Bè. Người ở đây có thể đã có trước, và các làng cụ thể ra đời ở nhiều thời điểm khác nhau sau đó.

"Nhà Bè xưa là làng chài ven biển." Nhà Bè là vùng cửa sông nước lợ, cách biển một quãng. Nghề đánh bắt ở đây là đánh bắt trên sông, rạch, khác với nghề biển ở Cần Giờ hay Vũng Tàu.

"Cả vùng đều là rừng ngập mặn." Rừng Sác ngập mặn chủ yếu ở phía Cần Giờ. Nhà Bè thời xưa có dừa nước và bãi bồi, xen những gò đất làm ruộng, nhà ở được, nên mới có làng sớm.

"Tên làng do vua đặt." Phần lớn tên làng do người lập làng chọn rồi được ghi vào sổ sách khi chính quyền công nhận. Việc triều đình ban tên mới cho làng có xảy ra nhưng không phải chuyện thường.

Câu hỏi thường gặp

Người Việt đến Nhà Bè từ bao giờ?

Không có năm chính xác. Điều biết chắc là vùng Nhà Bè được khai phá cùng thời với đất Gia Định, tức từ khoảng cuối thế kỷ XVII sang thế kỷ XVIII, quanh mốc lập phủ Gia Định năm 1698. Các làng cụ thể có năm lập khác nhau, thường phải dựa vào sắc thần, gia phả để ước đoán.

Nhà Bè thời xưa có phải là đất hoang không?

Phần lớn là bãi bồi, rừng dừa nước và đất thấp ngập theo triều, dân cư thưa. Nói "đất hoang" theo nghĩa chưa được khai thành ruộng vườn thì đúng một phần, nhưng sông rạch ở đây đã là đường thuỷ quan trọng từ rất sớm, có người qua lại và đánh bắt.

Vì sao người xưa chọn sống ở vùng nước lợ khó khăn như vậy?

Vì nơi này nằm trên đường thuỷ chính vào Sài Gòn, gần chợ để bán cá tôm, lá dừa, và còn nhiều đất trống. Với lưu dân đến sau, đất thấp ven sông dễ nhận hơn đất gò đã có chủ. Họ chấp nhận khó khăn về nước ngọt để đổi lấy cơ hội làm ăn.

Có tài liệu nào ghi lại làng xóm Nhà Bè thời xưa không?

Có những nguồn như sách địa chí về Gia Định viết thời Nguyễn, sổ địa bộ đời Minh Mạng, sắc thần ở các đình, gia phả dòng họ, và sách khảo cứu hiện đại về địa danh thành phố. Mức độ chi tiết về từng làng ở Nhà Bè khác nhau, nhiều chỗ chỉ nhắc qua tên.

Dấu tích thời mở đất nào còn thấy ở Nhà Bè?

Rõ nhất là các ngôi đình, miếu cũ ven rạch với sắc phong, hoành phi, cùng tên rạch, tên ấp và tên xã cũ mang chữ Hán Việt. Nếp nhà quay mặt ra sông ở một số xóm cũ và thói quen tính theo con nước cũng là dấu vết còn lại của đời sống thời ấy.

Nhà Bè thời xưa có thuộc Biên Hoà không?

Trong buổi đầu, vùng Đồng Nai và Sài Gòn cùng nằm trong phủ Gia Định, ranh giới các huyện còn rộng và thay đổi nhiều lần. Truyền tích ông Thủ Huồng gắn với Biên Hoà, nhưng điều đó không có nghĩa đất Nhà Bè thuộc Biên Hoà; nên tra sách địa chí cho từng thời kỳ cụ thể.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.